Lịch Sử Việt Nam

Custom Search



Chào mừng bạn đến với Lịch Sử Việt Nam.
Nếu đây là lần đầu bạn ghé thăm Diễn đàn Lịch Sử , xin mời bạn xem phần hỏi/đáp để biết cách dùng diễn đàn. Hoặc bạn cũng có thể ghi danh để theo dõi và tham gia thảo luận cùng chúng tôi.

Go Back   Lịch Sử Việt Nam > Diễn Đàn Lịch Sử > Triết học

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 05-06-2010, 00:53
thangkhungthoibinh's Avatar
thangkhungthoibinh thangkhungthoibinh vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Dân thường
Thần dân Đại Việt
 
Công Danh: 0 / 89
Sự Nghiệp: 34 / 38
 
Tham gia ngày: 03-06-2010
Bài gởi: 28
Quyền Uy: 4
Thanks: 3
Thanked 6 Times in 5 Posts
thangkhungthoibinh là tương lai nước Việt
Default Tư tưởng giải thoát trong sáu trường phái triết học chính thống bà-la-môn giáo

Bài này do mình làm dựa trên nhiều tư liệu cso giá trị...!
Nỗi khổ của cuộc đời luôn thôi thúc con người vươn lên, mơ ước một cõi hạnh phúc lý tưởng tuyệt đối. Chính vì vậy, con người luôn luôn khát khao và truy tìm con đường giải thoát. Nhưng làm sao để được giải thoát khỏi kiếp đau khổ luân hồi này? Đó là câu hỏi đã được đặt ra từ lâu và là vấn đề được bàn luận, lý giải từ thời cổ đại cho đến ngày nay, chưa bao giời ngừng nghỉ. Mặc dù cùng một câu hỏi nhưng mỗi tôn giáo, mỗi trường phái lại có cách lý giải và phương pháp thực hành khác nhau. Ví dụ, sáu trường phái chính thống Bà - la - môn giáo tuy đều dựa vào tư tưởng kinh Veda và Upanisad, nhưng khi nói về sự giải thoát cũng như con đường đưa đến giải thoát thì mỗi trường phái lại có quan niệm và phương pháp thực hành riêng. Chúng ta hãy tìm hiểu, phân tích để thấy sự tương đồng và dị biệt của mỗi trường phái ấy trong việc giải thích về vấn đề giải thoát này như thế nào!

1.Trường phái triết học Samkhya, người ta cho rằng trường phái này do nhà thông thái Kapila sáng lập vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên (Tr CN), nhưng cho đến khoảng đầu thế kỷ thứ V Tr CN thì trường phái này mới đạt tới hệ thống hoàn chỉnh với cuốn Samkhya-karika của nhà chú giải học Ishvara Krishna và tác phẩm Samkhya Sutra (ra đời vào khoảng thế kỷ thứ XV)
Samkhya có nghĩa là “số luận”, nghĩa gốc của từ Samkhya là “liệt kê”; Đây là trường phái nhị nguyên luận, tức là thừa nhận sự tồn tại của vật chất lẫn sự tồn tại của linh hồn. Điểm khác biệt của trường phái này so với quan điểm truyền thống là họ cho rằng thế giới không do Thượng Đế sáng tạo, vạn vật có được là do nguyên thể vật chất đầu tiên Prakriti sanh ra.
Nếu Prakriti được xem là bản nguyên của vạn vật, thì Purusha được xem là bản nguyên của tinh thần. Hai bản nguyên Prakriti và Purusha tuy tồn tại độc lập nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Purusha không phải là Thượng Đế mà là nguyên lý tinh thần, tồn tại độc lập phổ biến, nhiều vô tận và vĩnh cửu. Tự nó không hoạt động nhưng lại là yếu tố cần thiết, làm chất xúc tác cho Prakriti.
Còn tự thân Prakriti hàm chứa nguyên nhân cho cơ năng để tạo nên vật chất, cơ năng đó chính là sự liên kết, tương tác giữa ba tính chất-Guna: Sattva (thuần chất), Rajas ( kích chất) và tamas (ế chất). Nếu chưa có sự quan chiếu của Purusha thì ba tính chất-Guna vẫn còn trong trạng thái tĩnh và prakriti chưa tạo ra vạn vật.
Nhưng khi có sự quan chiếu của Purusha thì trước tiên phần “kích chất” (rajas) tự phá vỡ ra ngoài trạng thái tĩnh, tiếp theo là yếu tố “thuần chất” (sattva) và cuối cùng là “ế chất” (tamas), lúc ấy vạn vật mới được hình thành, trong đó có con người.
Do sự tác động qua lại của ba Guna khi phá vỡ trạng thái tĩnh thì đầu tiên prakriti sinh ra tri năng tức khả năng tri giác, khả năng này cũng tự biến hóa sinh ra năm cơ năng (thị năng, thính năng, khứu năng, vị năng và xúc năng) và ý thức (cảm quan thứ sáu). Từ cơ năng hình thành năm giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi và da) và năm cơ quan (cuống họng, bàn tay, bàn chân, cơ quan bài tiết và cơ quan sinh dục) của con người.
Như thế là cơ thể con người trở nên trọn vẹn và cũng bắt đầu có sự “chấp ngã”, tức là con người cho rằng: cái này là ta; Cái này là của ta; Cái này là tự ngã của ta. Chính sự chấp ngã này đã khiến con người đi lạc ra ngoài phạm vi của tự tính và cũng vì thế mà con người bị kìm hãm, bị trói buộc vào nghiệp-Karman, và cũng từ đây phần vi tế thân bị chìm ngập trong biển sanh tử luân hồi chứ không phải Purusha bị luân hồi sanh tử.
Phái Samkhya cho rằng, tính đa linh hồn là một sự kiện do thể nghiệm đem lại và chính vì thế trong mỗi thân xác mỗi người có một linh hồn riêng biệt- một phần của Purusha. Chính sự khác biệt về linh hồn trong mỗi cá thể nên dẫn đến mỗi người có ý nghĩ và hành động cũng như lời nói khác nhau dẫn đến nghiệp - Karman khác nhau.
Vì vậy, muốn giải thoát vi tế thân-linh hồn cá biệt khỏi luân hồi sanh tử thì con người phải dốc lòng, quyết tâm tẩy sạch hết dơ bẩn, tức là đoạn trừ tất cả Karman để tinh thần trở nên trong sạch, trở về với tự tính bất sinh, bất diệt, trường tồn và bất biến. Nhưng muốn đắc quả giải thoát, theo Kapila thì con người phải: Hiểu được hai mươi lăm thực thể thì được giải thoát mà được giải thoát là biết được cái trí duy nhất chân chính. Cái trí duy nhất chân chính ấy là trí nội tại, là phần anh minh của tinh thần thuần túy chớ không phải là trí thức thông thường. Và khi giải phóng linh hồn khỏ thể xác thì lúc đó tất cả chỉ là tinh thần, là trí thông minh trong sáng và tuyệt vời, trong sáng và tuyệt vời đến mức không còn khái niệm cá thể nữa, tức là biết được rằng không có “ta”, không có cái gì thuộc về ta cả”.
Bên cạnh việc hiểu được hai mươi lăm thực thể thì Yoga là phương pháp hổ trợ cho trí nội tại hoàn thành sứ mạng giải thoát cho vi tế thân. Đó là phương pháp mà những người theo phái Sankhya cần phải thực hành nếu muốn giải thoát.
__________________
+5 Tham Vọng
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #2  
Old 05-06-2010, 00:54
thangkhungthoibinh's Avatar
thangkhungthoibinh thangkhungthoibinh vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Dân thường
Thần dân Đại Việt
 
Công Danh: 0 / 89
Sự Nghiệp: 34 / 38
 
Tham gia ngày: 03-06-2010
Bài gởi: 28
Quyền Uy: 4
Thanks: 3
Thanked 6 Times in 5 Posts
thangkhungthoibinh là tương lai nước Việt
Default

2.Trường phái triết học Yoga do đạo sĩ Patanjali sáng lập. Ông là người hệ thống hóa các cách tu luyện Yoga đã có từ trước của Ấn Độ thành bộ Yoga sutra - tài liệu căn bản của Yoga, được viết vào khoảng năm 150 Tr CN.
Bộ Yoga sutra được chia làm bốn phần: Phần một nói nhiều đến niềm lạc thú tuyệt vời, cũng như giá trị vừa tinh thần vừa bản thể luận của trạng thái này. Đối với họ, đây là trạng thái mà tinh thần tiếp cận với yếu tố bản thể luận; Phần thứ hai của Yoga sutra chỉ nhằm phát triển các quan niệm tổng quát của phần một; Phần thứ ba miêu tả người tu luyện yoga do thực hiện đồng bộ các kỹ năng gây cảm hướng, thoát khỏi mọi liên hệ về thể xác; Phần thứ tư là phần phụ lục, bổ sung thêm một vài thiếu sót trong hệ thống đã trình bày ở các phần trên.
Yoga theo nghĩa đen là “sự đoàn kết” có nghĩa là sự đoàn kết tinh thần của linh hồn riêng biệt với linh hồn vũ trụ, hay “”hợp nhất tâm thể về một mối”. Yoga chấp nhận ba Pramana là nhận thức, suy luận và chứng thực cùng với hai mươi lăm nguyên lý của phái Sankhya. Vì vậy triết học Yoga rất gần gũi với tư tưởng triết học của trướng phái Sankhya trong quan điểm nhận thức luận và phần siêu hình.
Tuy nhiên, trường phái Yoga lại tin vào Thượng đế như là một bản ngã tối cao khác với những bản ngã khác. Do đó, nó được gọi là “Seshvara Sankhya” hay “Sankhya hữu thần”, khác với Sankhya cổ điển là nirishvara hoặc vô thần. Tuy trường phái Yoga cho rằng có Thượng đế nhưng với họ Thượng đế không phải là đấng sáng tạo hoặc duy trì vũ trụ; không có nhiệm vụ thưởng phạt con người. Đồng thời, trường phái Yoga cũng thừa nhận linh hồn cá thể.
Nếu Tứ Diệu Đế của Phật giáo lấy Bát chánh đạo làm trung tâm cho pháp môn tu tập, thì bộ Yoga sutra cũng có tám nguyên tắc gọi “Bát bảo tu pháp” được xem là pháp tu chung cho tất cả các trường phái Yoga. Bát bảo tu pháp gồm:
Thứ nhất Chế giới (Yama) là những giới căn bản giúp hành giả chế ngự những ác pháp trong hành động, lời nói và cả trong ý thức. Bao gồm những giới: không sát sanh, không nói dối, không trộm cắp, không có của riêng và không dâm dục, gọi là ngũ chế. Đây là bước đầu tu luyện về đạo đức. Tại sao bước thứ nhất cần phải tu luyện về đạo đức? Nếu muốn biết tại sao thì cần phải hiểu những giá trị lợi ích của ngũ chế này.
Một là không sát sanh, tức là không giết hại sinh mạng chúng sanh, không những sinh mạng của con người và kể cả những con vật cũng không được phép sát hại. Không sát sanh sẽ không tạo thêm nghiệp duyên, oan trái đền mạng lẫn nhau, đoạn trừ được nghiệp giết hại, cướp đoạt sinh mạng chúng sanh; không sát sinh thì hành giả đã cắt đứt bớt một sợi dây trói buộc trong vòng luân hồi sanh tử, không phải trôi lăn trong biển khổ trầm luân để đền mạng lẫn nhau.
Hai là không nói dối, đối với tha nhân thì không làm cho người oán giận ghen ghét, không nói dối tức là phải nói thật, nhờ vậy mà không đánh mất lòng tin ở người, luôn tạo sự hòa thuận, kết nối mọi người lại với nhau, đem mọi người đến gần nhau hơn, góp phần làm cho xã hội được ổn định. Còn đối với tự thân thì khi không nói dối sẽ hạn chế tới mức thấp nhất sự hao tổn khí lực và tán tâm.
Ba là không trộm cắp, trường phái Yoga quan niệm rằng họ không có của riêng vậy trộm cắp để làm gì? Với lại, nếu trộm cắp sẽ bị gông cùm, rơi vào cảnh tội tù, mất đi sự tự do về thân thể, bị người đời lên án sẽ khổ não về tinh thần thì làm sao tu tập đạt đến sự thanh tịnh, tinh khiết của tâm chứ!
Bốn là không có của riêng, của cải làm cho con người tham đám và phải luôn luôn tìm cách gìn giữ, ăn không ngon, ngủ không ngon, vì lúc nào cũng lo sợ bị tổn tài mất của thì làm sao chuyên tâm tu tập được. Vì vậy, mà họ chủ trương “không có của riêng” để ngăn ngừa lòng tham và đặng rảnh tay để dễ bề tu tập.
Năm là không dâm dục, một khi con người còn ham muốn xác thịt, đam mê dâm dục thì thân thể sẽ suy yếu vì mất đi quá nhiều tinh khí, làm cho “thần” không thể sáng suốt, tâm trí mê mờ, thân thể uể oải mệt mỏi thì không thể nào đi vào định được. Vì vậy trường Phái Yoga mới chủ trương đoạn trừ dâm dục.
Như vậy, ngũ chế có công năng ngăn ngừa và đoạn trừ nghệp mới, làm cho hành giả trong sạch trong lời nói và hành động, giữ gìn thân thể khỏe mạnh, làm nền tảng cho sự thanh tịnh, sáng suốt của tinh thần, từng bước tiến dần đến sự giải thoát bằng cách thực hành những nguyên tắc tiếp theo.
Thứ hai nội chế (Niyama - văn hóa của bản thân) bao gồm sự thanh khiết bên ngoài và bên trong, sự nghiên cứu học tập, dấn thân vào khổ hạnh mà tu luyện, gạt bỏ mọi việc thế tục, không tham cầu danh lợi, tư tưởng chỉ hướng đến thần tối cao mà thôi.
Thứ ba tọa pháp (Asana) bao gồm những quy định, những phương pháp, những nguyên tắc trong lúc tĩnh tọa. Ví dụ, khi ngồi không được cúi về trước, không được ngã về sau, đỉnh đầu phải thẳng với đốt xương cùng, hay trong tư thế kiết già thì bàn chân phải đặt lên đùi chân trái, bàn chân trái đặt lên đùi chân phải, tay phải đặt lên tay trái, hai đầu ngón cái chạm vào nhau, toàn thân không được cử động trong suốt thời gian thiền tọa, hoặc giả hai tay đặt lên hai đầu gối.v.v.
Thứ tư điều tức pháp (Pranayama), tức là phương pháp điều hòa hơi thở. Sau khi điều thân (thân ngồi yên bất động), bước tiếp theo là điều hòa hơi thở. Điều hòa như thế nào cho đúng? Trước tiên phải hít thật sâu bằng mũi thở ra bằng miệng một cách nhẹ nhàng, làm như vậy ba lấn để đả thông và điều hòa nhiệt độ cơ thể. Đặc biệt là phải tác ý đưa hơi thở về bụng chứ không dẫn khí (không khí) hết về phổi. Nếu không sẽ làm cho phổi ngày càng lớn lên, bất bình thường, sanh bệnh. Bên cạnh đó, hơi thở phải đều đặn khi hít vào cũng như lúc thở ra. Nếu vào nhanh ra chậm hoặc vào chậm ra nhanh sẽ làm ảnh hưởng đến tim. Hoặc khi điều hòa hơi thở về bụng nếu điều quá sâu, qua khỏi đan điền, chạm vào huyệt đạo có tên là “hội âm” thì sẽ kích thích sinh lý đòi hỏi quan hệ, làm cho lòng ham muốn xác thịt ngày càng tăng lên. Cho nên đến giai đoạn này, hành giả cần phải có sự hướng dẫn của bậc minh sư, nếu không không những không có lợi mà còn tổn hại sức khỏe, sanh nhiều bệnh nữa.
Thứ năm Chế cảm pháp (Pratyahara) là phương pháp kiềm chế, kiểm soát các cảm giác và chủ yếu là việc loại trừ cảm giác ra khỏi khách thể, làm chủ các giác quan, không cho các sự vật, hiện tượng xung quanh tác động khiến các giác quan chạy theo ngoại cảnh. Vì vậy, các hành giả thường sử dụng phương pháp “tự kỷ ám thị”- “duy lý tác ý” để hướng các giác quan vào bên trong. Ví dụ như: nhĩ căn (lỗ tai) hãy đóng lại, đừng chạy theo âm thanh bên ngoài, hãy lắng nghe hơi thở vào ra.v.v.
Năm giai đoạn đầu được gọi là những giúp đỡ bên ngoài đối với Yoga, và ba cấp còn lại được gọi là những giúp đõ bên trong.
Thứ sáu Tổng trì pháp, đó là sự thu nhiếp, cột chặt tâm thần mình với một đối tượng. Đối tượng đó có thể là đầu mũi, điểm giữa của hai chân mày, rốn hoặc trái tim hay hình ảnh các vị thần. Đối tượng này không bắc buộc các hành giả phải chọn giống nhau, miễn sao đối tượng mà hành giả chọn có thể giúp hành giả giữ tâm ý kiên định trong suốt thời gian tĩnh tọa là được.
Thứ bảy Thiền định hay Tĩnh lự pháp (Dhyana), giai đoạn này là giai đoạn tập trung tư tưởng cao độ vào một đối tượng duy nhất trong suốt thời gian thực tập thiền định. Đó là sự tư duy vững vàng không bị gián đoạn.
Thứ tám Tuệ hay Tam muội pháp (samadhi) đây là bước cuối cùng của Yoga, ở giai đoạn này trí óc hoàn toàn hấp thụ được đối tượng của thiền định. Trong Dhyana (bước thứ bảy) hành động của việc thiền định và đối tượng của thiền định vẫn là hai, vẫn tách rời nhau, nhưng ở đây chúng trở thành một. Nó là phương tiện cao nhất để nhận thức sự chấm dứt các thay đổi của tinh thần. Đây là trạng thái hoàn toàn làm chủ được tâm trí, đạt đến chỗ uyên thâm, khi thành công ở giai đoạn này cũng có nghĩa là đạt được giải thoát rồi.
Hệ thống Yoga của Pata là một hệ thống vĩ đại của kỷ luật linh hồn, đã được tìm thấy trong tất cả các trường phái triết học Ấn Độ ngoại trừ Charvaka. Nó được tìm thấy ở phần siêu hình học của Samkhya. Phương pháp này tạo ra cho chúng ta một con đường thực tiễn của sự thanh khiết và tự chủ để có thể nhận biết được bản chất thật của con người.
__________________
+5 Tham Vọng
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #3  
Old 05-06-2010, 00:56
thangkhungthoibinh's Avatar
thangkhungthoibinh thangkhungthoibinh vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Dân thường
Thần dân Đại Việt
 
Công Danh: 0 / 89
Sự Nghiệp: 34 / 38
 
Tham gia ngày: 03-06-2010
Bài gởi: 28
Quyền Uy: 4
Thanks: 3
Thanked 6 Times in 5 Posts
thangkhungthoibinh là tương lai nước Việt
Default

3.Trường phái triết học Mimansa do triết gia Jaimini sáng lập vào khoảng thế kỷ thứ II Tr CN. Trường phái này bàn về hành động, cùng với các nghi thức và sự hiến tế của phần đầu kinh Veda. Vì vậy trường phái này còn được gọi là Purva Mimansa hay Karman Mimansa.
Từ Mimansa theo nghĩa đen là “tư tưởng được kính trọng” vì nó được áp dụng vào việc diễn giải lễ nghi trong Veda và đòi hỏi sự kính trọng cao nhất. Đồng thời từ Mimansa còn có nghĩa là thẩm vấn, khảo cứu.
Đây là trường phái nhị nguyên luận, vì nó thừa nhận sự tồn tại của bản nguyên tinh thần tức Brahman và bản nguyên của vũ trụ. Họ cho rằng linh hồn trong mỗi cá nhân chỉ là hiện thân của Brahman-tinh thần vũ trụ vĩnh cửu, tuyệt đối và bất diệt. Vì vậy, xét về bản chất thì linh hồn cá thể đồng nhất với linh hồn vũ trụ - Brahman.
Mục đích của phái Mimansa là cung cấp những quy tắc, theo đó các đoạn văn của Veda phải được giải thích một cách rõ ràng về mặt triết lý cho các quan điểm có ở phần đầu của kinh Veda. Nhưng nếu chỉ giải thích thôi thì nó chỉ là những lời bình luận về nghi thức của kinh Veda chớ không được xem là một học thuyết, một trường phái.
Người ta xem Mimansa là một trường phái là vì nó ước muốn cung cấp sự thanh tịnh về mặt triết học, về các quan điểm của Veda, thay thế ý kiến trước đây về việc lên thiên đường bằng lý tưởng đạt được sự giải thoát. Hay nói một cách khác là dùng nghi lễ làm phương tiện để thoát khỏi luân hồi sanh tử.
Trường phái này quan niệm linh hồn cá thể bị trói buộc, đọa lạc là do ham muốn nhục dục của thể xác. Cho nên linh hồn bị mê mờ, mất đi bản lai thanh tịnh. Và một khi linh hồn không còn sáng suốt thanh tịnh thì không thể đạt đến sự giải thoát bằng con đường tri thức hay tư duy trừu tượng, mà chỉ có thể giải toát bằng sự gìn giữ nghiêm ngặt và thực hiện cho đúng mọi luật lệ, quy tắc, nghi thức được quy định trong kinh Veda.
Cho nên, theo Jaimini con đường giải thoát không thể đi qua mê cung của luận lý, nó chỉ có thể thực hiện được bằng sự “kính cẩn giữ truyền thống, cứ khúm núm theo đúng các nghi lễ trong các kinh sách”.

4.Trường phái triết học Nyaya ra đời vào khoảng thế kỷ thứ III trước Công nguyên do nhà hiền triết Gautama sáng lập. Ông còn có biệt danh là Aksapada. Nyaya nghĩa là lý luận và hệ thống chủ yếu là trí thức, phân tích, lập luận và nhận thức luận. Nó cũng được gọi là Tarkashastra hay khoa học của sự lý luận. Nyaya sutra gồm 538 câu, là kinh điển làm căn cứ cho sự tu tập của trường phái này.
Học thuyết Nyaya đề cao kinh nghiệm, thừa nhận bốn phương thức nhận thức: cảm giác, kết luận, loại tỷ và bằng chứng của những người khác cũng như những cuốn sách khác. Bốn điều này được gọi là Prana, nghĩa là lượng, tức là nhận thức đúng. Bên cạnh đó lại có bốn nhận thức không đáng tin cậy đó là: ký ức, nghi ngờ, sai lầm và giả thuyết.
Đồng thời Gautama cũng đưa ra phép suy luận gồm năm đoạn: tôn (tiền đề); Nhân (tương đương với chúng minh); Dụ (tương đương với đại tiền đề); Hợp (tương đương với tiểu tiền đề) và Kết (tương đương với kết luận). Năm đoạn suy luận này được xem là nòng cốt của thuật lý luận trong triết học Nyaya.
Nyaya cũng là trường phái nhị nguyên luận, tức là thức nhận sự tồn tại của vật chất và linh hồn trong vũ trụ. Trường phái này cho rằng trong bản thân các sự vật, hiện tượng và kể cả con người đều có bốn hành chất: đất, nước, lửa và không khí. Các hành chất này được tạo bởi những hạt rất nhỏ-các nguyên tử được gọi là Anu. Những nguyên tử - Anu là vĩnh cửu bất biến, còn vạn vật do các nguyên tử tạo thành thì lại nhất thời, thay đổi và biến hóa.
Nếu Anu được xem là các nguyên tử các thự thể vật chất thì Ya được xem là những thực thể tinh thần tồn tại vĩnh viễn và không thể bị tiêu diệt. Những linh hồn có thể tồn tại tự do hoặc có thể gắn liền với các nguyên tử vật chất. Còn ý thức là thuộc tính của thực thể Ya.
Ngoài ra, trường phái này còn thừa nhận sự tồn tại của một lực lượng siêu nhiên đó là thần Isvara. Đối với họ thần Isvara là bản nguyên tinh thần tối cao chứ không phải là đấng sáng tạo ra những linh hồn và nguyên tử. Và trường phái này quan niệm rằng thần Isvara là “chất liệu” liên kết các nguyên tử lại với nhau hoặc giữa các nguyên tử với linh hồn.
Với họ nguyên nhân của những nỗi khổ trong cuộc sống con người là do những linh hồn bất tử luôn bị trói buộc bởi những nguyên tử, cùng với những ham muốn vật chất. Chính vì để thỏa mãn những ham muốn mà con người tạo ra Karman, từ đó linh hồn cứ gắn kết với thể xác và bị giam hãm trong vòng luân hồi, không thể trở về với bản tánh thanh tịnh bất sanh bất diệt được.
Nếu muốn giải thoát, đạt tới cảnh giới Niết-bàn (Nirvana), theo Gautama thì phải triệt để tuân theo giới luật, thực tập thiền tọa, tạo ra nghiệp thiện, diệt mọi dục vọng, xóa bỏ vô tri, mê muội bằng cách tư duy mạch lạc, sáng sủa hợp logic hay nhận thức đúng đắn để đạt đến chân lý, tức là đạt tới cảnh giới thanh tịnh, an vui và giải thoát.

5.Trường phái triết học Vaisesika do Kanada nghĩa là “Người ăn nguyên tử” có biệt danh là Uluka sống vào khoảng thế kỷ thứ II Tr CN sáng lập. Vaisesika sutra là tác phẩm trình bày có hệ thống đầu tiên của trường phái này. Và đến thế kỷ thư V sau Công nguyên học thuyết này được phát triển phong phú trong tác phẩm Prasastapat.
Mở đầu bản trình bày, các tác giả miêu tả chín chất liệu tạo thành vũ trụ: đất, nước, lửa, không khí, ete, thời gian, không gian, linh hồn và tinh thần. Năm chất liệu: đất, nước, lửa, không khí và tinh thần gọi là chất liệu năng động. còn bốn chất liệu: ete, thời gian, không gian và linh hồn là những chất liệu không năng động.
Trường phái Vaisesika giải thích toàn bộ vũ trụ bằng 6 phạm trù hay sáu nguyên lý (Padarthas) gồm: thực thể (Dravya), chất lượng (Guna), hoạt động (Karma), tính phổ biến (Samanya), Tính đặc thù (Vaisesa) và Nội thuộc, hòa hợp (Samavaya).
Theo Kanada linh hồn có hai loại: linh hồn cá biệt và linh hồn tối cao. Linh hồn tối cao là Thượng đế, chỉ có một và là đấng toàn minh, là nguyên nhân sáng tạo ra vũ trụ, chỉ huy các thế giới nguyên tử và thế giới linh hồn cá biệt. Còn những linh hồn cá biệt, về bản chất chỉ là sự biển hiện của linh hồn tối cao trong cơ thể mỗi người mà thôi.
Nguyên nhân dẫn đến sự luân hồi của mỗi cá nhân là vì linh hồn cá biệt nơi mỗi người thường bị những ham muốn dục vọng che lấp, nên linh hồn rơi vào vòng ám muội của thế giới vật chất, thường biến, hữu hình, hữu hạn, không giữ được bản lai thanh tịnh của mình.
Theo trường phái này, không thể giải thoát bằng cách lễ bái, tích lũy khổ hạnh hay tin tưởng vào sự cứu rõi của đấng tối cao. Đối với họ, phương pháp đưa đến sự giải thoát là phải chế dục theo pháp Yoga, diệt trừ nghiệp lực và phải thấu triệt sáu nguyên lý tạo thành vũ trụ. Nếu thực hiện được như thế thì linh hồn cá biệt mới đạt đến sự giải thoát hoàn toàn
__________________
+5 Tham Vọng
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #4  
Old 05-06-2010, 00:57
thangkhungthoibinh's Avatar
thangkhungthoibinh thangkhungthoibinh vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Dân thường
Thần dân Đại Việt
 
Công Danh: 0 / 89
Sự Nghiệp: 34 / 38
 
Tham gia ngày: 03-06-2010
Bài gởi: 28
Quyền Uy: 4
Thanks: 3
Thanked 6 Times in 5 Posts
thangkhungthoibinh là tương lai nước Việt
Default

6.Trường phái triết học Vedanta ra đời từ việc tổng thuật, bàn luận, giải tích kinh Veda và Upanishad. Trường hái này chia thnah2 hai môn phái chính: Môn phái thứ nhất ra đời vào khoảng năm 700-750 do Shankara sáng lập, có tên Advaita nghĩa là tuyệt đối, không nhị nguyên; môn phái thứ hai do Ramanuja (1010-1091) sáng lập có tên Visista Advaita, nghĩa là không nhị nguyên có phân biệt.
Theo Shankara, trên thế giới này không có gì tồn tại vĩnh viễn tuyệt đối ngoài Brahman. Tất cả cá sự vật, hiện tượng và kể cà Atman đều do Brahman tạo ra. Tất cả chỉ là sự thể hiện dưới các dạng khác nhau của một thực thể tuyệt đối, duy nhất, tối cao, bất biến-Brahman mà thôi. Shankara cho rằng có hai cái ngã: Brahman (đại ngã) và Atman (tiểu ngã) nhưng chỉ là một. Vì Atman bị che lấy bởi thế giới vật dục, thế giới hiện tượng biến ảo, vô thường nên mới bị trầm luân sanh tử.
Theo Shankara, con người không thể dùng nhận thức cảm giác hoặc tri năng và quá trình logic để hòa nhập Atman với Brahman. Chỉ có thể tìm đến sự giải thoát bằng con đường nhận thức trực giác, phép nội tỉnh và “thực nghiệm tâm linh”.
Một khi nhận thức được bản chất của Atman và Brahman thì con người sẽ trút bỏ được mọi sự ràng buộc, mê hoặc của thế giới vật chất hữu hình, hữu hạn này. Con người sẽ không còn lòng tham vị kỷ tư lợi, chấm dứt mọi ham muốn nhục dục, vật chất; vượt lên mọi quan niệm thiện và ác, sống và chết, sống hòa hợp, thanh thản, vô dục, an lạc và tự tại. Đó chính là sự giải thoát.
Còn môn phái Visista Advaita cho rằng trong vũ trụ có ba thực thể tồn tại đó là: vật chất, linh hồn cá biệt và linh hồn tối cao Brahman. Ba thực thể tồn tại này có sự liên hệ và quy định lẫn nhau. Linh hồn cá biệt bắt thể xác phải phục tùng nó. Còn linh tồn tối cao Brahman thống trị cả thể xác lẫn linh hồn cá biệt.
Theo môn phái này, để đạt đến sự đồng nhất giữa linh hồn cá thể và linh hồn tối cao-giải thoát chỉ có thể thực hiện được bằng sự tu luyện, chiêm nghiệm nội tâm, bằng tính năng động của tinh thần cộng với sự hiểu biết và lòng kính yêu Thượng đế Brahman, ngoài cách này ra không còn cách nào khác.
Nhìn chung sáu trường phái triết học chính thống Bà-la-môn giáo tuy mỗi trường phái có quan niệm khác nhau về thế giới vật chất cũng như vai trò của đấng tối cao - Thượng đế và có những đường lối tu tập riêng biệt, nhưng tất cả những trường phái này đều lấy sự giải thoát làm mục đích cuối cùng, lấy sự tu luyện tri thức, trao dồi đạo đức, lánh xa trần tục, tìm nơi thanh vắng để tĩnh tâm, thiền định, “thực nghiệm tâm linh” và diệt dục làm phương châm hầu đạt đến giác ngộ và giải thoát cho mình. Tuy tất cả các trường phái đều vạch ra con đường giải thoát nhưng con đường ấy chỉ dành cho giai cấp thượng đẳng, chứ không phải dành cho tất cả mọi tầng lớp trong xã hội. Đây là điểm hạn chế lớn nhất mà sáu trường phái chính thống vấp phải. Hạn chế này chỉ được khắc phục khi Đạo Phật ra đời.
Đức Thích Ca mâu Ni tuyên bố: không có đẳng cấp trong giọt máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Chính vì lời tuyên bố này mà Ngài bị chống đối kịch liệt vì đã làm đảo lộn trật tự phân biệt đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ thời bấy giờ. Nhưng lại được các vua quan triều đình, các trưởng giả giàu sang, đặc biệt là những đẳng cấp dưới ủng hộ một cách chân thành nhiệt tình. Và Ngài cho rằng: “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”; ”Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”. Cho nên, Ngài thâu nhận tất cả những ai muốn vào giáo đoàn và bình đẳng hướng dẫn để mọi người đều tiến đến giải thoát như nhau.
__________________
+5 Tham Vọng
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 16:42.
vBulletin Style ©2007 by Mr KOP

Powered by: vBulletin - Copyright ©, Jelsoft Enterprises Ltd.



Quảng Cáo
RSS RSS 2.0 XML
Số lượt truy cập Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam từ 03-12-2006
Số lượt truy cập Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam từ 03-12-2006